Thứ Tư, 25 tháng 3, 2009

Quảng Nam đất và người


Một vùng đất đã đi qua chặng đường hơn 500 năm lịch sử, Quảng Nam - với ý nghĩa là vùng đất rộng lớn về phương Nam - được hình thành từ khá sớm và được biết đến là “đất văn hóa”, “đất khoa bảng”, “đất địa linh nhân kiệt”, nơi đã sản sinh ra biết bao nhiêu tài danh, hào kiệt cho đất nước, nơi lưu giữ những công trình văn hóa vật thể và phi vật thể có giá trị cao, được thế giới công nhận.

Quảng Nam - Đất và người

Nằm ở giữa miền Trung Việt Nam, phía bắc Quảng Nam giáp tỉnh Thừa Thiên-Huế và thành phố Đà Nẵng, phía tây giáp nước Lào, phía nam giáp Quảng Ngãi, phía đông giáp biển Đông, ngoài khơi có đảo Cù Lao Chàm với ngư trường rộng lớn.


Sôn Thu Bồn

Quảng Nam, “vùng đất địa linh nhân kiệt”, thiên nhiên đã ưu đãi và hào phóng dành cho nơi đây một địa thế thuận lợi với những ngọn núi cao: núi Lum Heo cao 2.045m, núi Tion cao 2.032m, núi Gole - Lang cao 1.855m (huyện Phước Sơn). Vùng đất thấp ven biển là đồng bằng châu thổ, chiếm gần 25% diện tích đất của tỉnh tập trung ở phía đông, trải dài hai bên quốc lộ. Các con sông lớn đều chảy từ dãy Trường Sơn ra biển Đông: sông Vu Gia, sông Thu Bồn, sông Tam Kỳ. Hai dòng sông Thu Bồn và Tam Kỳ vừa tô điểm cho Quảng Nam vừa là đường giao thông rất tiện lợi.

Đường bờ biển kéo dài từ Điện Ngọc đến giáp vịnh Dung Quất hoang sơ và sạch đẹp cùng với Hồ Phú Ninh, thủy điện Duy Sơn, khu rừng nguyên sinh phía Tây Quảng Nam, sông Trường Giang và xứ đảo Cù Lao Chàm là những điểm du lịch sinh thái lý tưởng; ngày nay trở thành điểm dừng chân của bao du khách.


Biển Cù Lao Chàm

Người Quảng Nam có tố chất thông minh, sáng tạo, cứng cỏi và có truyền thống đấu tranh kiên cường, bất khuất.

Đất Quảng Nam chưa mưa đà thấm
Rượu Hồng Đào chua nhấm mà đã sạy

Sức sống, sức sáng tạo của người dân nơi đây luôn gắn liền với sự “ nhạy cảm với cái mới, khao khát cái mới như đất hạn khát mưa, háo hức hút ngay từ giọt nước đầu tiên. Thậm chí khi chưa thật sự có giọt nước nào, chưa thật sự mưa đã náo nức hóng về mưa, cảm nhận ra nó rất sớm, chờ đón nó nồng nhiệt" (sđd: trang 370: Tìm hiểu con người xứ Quảng do Nguyên Ngọc chủ biên).

Đất và người Quảng Nam luôn là những bí ẩn đối cho những ai muốn khám phá.

Đất văn hoá

Vùng văn hóa Quảng Nam được hình thành trong tổng thể vùng văn hóa miền Trung. Địa hình nằm ở chính trung điểm đất nước theo trục Bắc - Nam, đây là nơi giao hòa của những sắc thái văn hóa giữa hai miền và giao lưu văn hóa với bên ngoài, điều này góp phần làm cho Quảng Nam giàu truyền thống và độc đáo về bản sắc văn hóa …

Đến với Quảng Nam, chúng ta được chiêm ngưỡng vẻ đẹp của những công trình kiến trúc cổ đạt tới đỉnh cao của nghệ thuật.

Đó là 2 di sản văn hóa thế giới được UNESCO công nhận, phố cổ Hội An và khu Di tích Mỹ Sơn với những giá trị văn hóa tiêu biểu của nhân loại. Khu Di tích Mỹ Sơn là cả một quần thể kiến trúc độc đáo của những ngôi đền tháp uy nghiêm, hùng tráng lưu dấu một thời huy hoàng của các vị vua Chăm. Có thể nói, đền tháp Mỹ Sơn là một hình ảnh điển hình của lịch sử kiến trúc cổ Chămpa. Cho đến nay, qua rất nhiều nghiên cứu của các chuyên gia trong và ngoài nước, kỹ thuật nung gạch, kỹ thuật xây dựng đền tháp Chàm vẫn còn là một ẩn số. Điều này góp phần tăng thêm vẻ huyền bí cho những ngôi tháp cổ Mỹ Sơn khi du khách đến thăm.


Phố cổ Hội An và khu Di tích Mỹ Sơn

Đô thị cổ Hội An - nơi “hội thủy, hội nhân và hội tụ văn hóa”, nơi tụ cư, hỗ cư và hợp cư của nhiều sắc thái văn hóa của người Việt, người Hoa, người Nhật Bản và người châu Âu … từ thế kỷ XVI. Hội An là một trong số rất ít những đô thị được bảo tồn tương đối nguyên vẹn với một tổng thể kiến trúc phong phú, đa dạng.


Phố cổ Hội An nhìn từ trên cao

Quảng Nam cũng là nơi lưu giữ hàng trăm công trình kiến trúc Việt cổ như đình, chùa, văn miếu, lăng miếu, nhà ở,… có niên đại cách đây 300 - 500 năm. Các di tích này không chỉ có giá trị về mặt văn hóa, nghệ thuật là còn có ý nghĩa lịch sử quan trọng, thể hiện sự phát triển lâu đời của một vùng văn hóa đàng Trong.Những kinh đô cổ Trà Kiệu, các tháp chàm Khương Mỹ, Chiên Đàn, Bàng An, Phật viện Đồng Dương...là những nơi ghi lại dấu ấn rực rỡ của nền văn hóa Sa Huỳnh, Champa, Đại Việt.

Bên cạnh đó, Trên 260 di tích văn hóa, lịch sử cách mạng, trong đó có 15 di tích xếp hạng quốc gia sẽ mãi mãi là niềm tự hào, là những trang sử hào hùng minh chứng cho truyền thống đấu tranh cách mạng kiên cường của người xứ Quảng trong lịch sử giữ nước, dựng nước của dân tộc.

Giá trị văn hóa của Quảng Nam không chỉ tỏa sáng từ những công trình kiến trúc cổ mà còn được tạo nên bởi những sắc màu văn hóa độc đáo ẩn chứa trong các phong tục, tập quán, lễ hội của các dân tộc sinh sống trên quê hương nặng nghĩa tình này. Đây chính là tài sản vô giá, là niềm tự hào của cộng đồng các dân tộc Quảng Nam.

Lễ hội ở Quảng Nam hết sức phong phú và đa dạng. Các lễ hội của người dân miền núi, miền biển, lễ hội nông nghiệp, lễ hội tôn giáo,… tất cả đều mang yếu tố tín ngưỡng, tâm linh, được tổ chức đều đặn hàng năm để cầu mong cho mưa thuận gió hòa, quốc thái dân an; để ngợi ca những bậc tiền nhân; hướng về cội nguồn, truyền thống của dân tộc và thể hiện khát vọng vươn tới chân - thiện - mỹ của con người nơi đây…Tiêu biểu như lễ hội Bà Thu Bồn (12 tháng 2 âm lịch) : bà vốn là một nữ thần Chăm mà người Việt vẫn thờ cúng và kính cẩn gọi là Bồ Bồ phu nhân ; lễ tế cá Ông tại những làng có đền, miếu thờ "Ông" : người Chăm và người Việt ở miền Trung từ lâu đã xem "Ông" (cá voi) là ân nhân của dân chài và những tàu thuyền gặp nạn trên biển ; sau phần tế lễ luôn luôn có hát bả trạo, hát bội, hát hò khoan…

Quảng Nam còn là nơi có nhiều làng nghề truyền thống được hình thành và phát triển từ nhiều đời nay. Trải qua hàng trăm, hàng ngàn năm, nghề và làng nghề đã tồn tại và phát triển ở đây như một phần không thể tách rời lịch sử mỗi làng quê, thôn xóm của vùng đất này.

Bên cạnh đó, văn hoá ẩm thức với mì Quảng, cao lầu Hội An, bò tái Cầu Mống, bánh tráng cuốn thịt heo, giò ốc, ốc vú nàng, bánh vạc, bánh bao, bánh tổ,…đã làm nên nét riêng của vùng đất này. Các món ăn đất Quảng đi vào đời sống, vào câu ca dao dân ca, vào tâm linh - tâm hồn người Quảng Nam. Những món ăn từ dân dã đến cầu kỳ mà từ cách ăn đến cách chế biến cũng như tính cách người Quảng: cần kiệm, dè sẻn mà lại phóng khoáng, vui tươi. Mộc mạc mà đậm chất. Từ con cá nục cuốn bánh tráng, rau muống chấm nước mấm “gin” (nguyên chất), cái bánh bèo con con, đến món mì Quảng sợi vàng óng ánh, con bò thui bên trong nhét lá ổi, lá sả thơm phức. Mì Quảng bây giờ đã là món ngon thân quen của người Việt ở nhiều nơi, không thua gì phở Bắc, bún bò Huế, hủ tiếu Mỹ Tho…


Bánh tráng cuốn thịt heo

Nói tiểu vùng văn hóa Quảng Nam thì cũng phải nhắc tới kho tàng văn nghệ dân gian của nó với vè Quảng, hò đi cấy, hò xay lúa, hò tát nước, hò giã gạo, hò giã vôi, hò đạp xe nước, hò khoan, hò ba lý, hát bã trạo, hát nhân ngãi, hô bài chòi… với thổ ngữ và cái giọng Quảng chắc nịch, đậm đà :

Ví dầu tình bậu muốn thôi
Bậu gieo tiếng dữ cho rồi bậu ra
Bậu ra cho khỏi tay qua
Cái xương bậu nát cái da bậu mòn !

Với những giá trị văn hoá vật thể và phi vật thể quí báu còn được lưu giữ , Quảng Nam hôm nay thực sự là một tiểu vùng văn hóa giàu bản sắc trong tổng thể các vùng văn hóa của Việt Nam.


Vùng đất học, đất khoa bảng

Trong suốt lịch sử hình thành và phát triển, Đất Quảng Nam được coi là vùng “đất học”, “đất khoa bảng”. Nơi đây là quê hương của nhiều nhân tài học rộng, đỗ cao, quê hương của nhiều vị anh hùng dân tộc qua các thời kỳ, những con người làm rạng danh đất Quảng như: Phạm Phú Thứ, Trần Quý Cáp, Huỳnh Thúc Kháng, Phan Chu Trinh, Hoàng Diệu, Nguyễn Duy Hiệu, Trần Cao Vân …


Huỳnh Thúc Kháng


Phan Chu Trinh


Trần Cao Vân

Từ đầu Triều Nguyễn, tại Quảng Nam đã hình thành một trung tâm văn học được coi là đứng thứ hai của đất nước sau trung tâm văn học cổ kính của thủ đô Hà Nội.

Quảng Nam đã sản sinh ra nhiều danh nhân khoa bảng. Tiêu biểu là Khoa thi năm Mậu Tuất (1898), toàn quốc có 18 vị Tân Khoa, thì Quảng Nam có 5 vị, 3 Tiến Sĩ và 2 Phó Bảng. Ðó là một điều hy hữu trong lịch sử thi cử của nước nhà. Kể từ các triều Lý , Trần, Lê, Nguyễn có tất cả 187 khoa thi Tiên Sĩ với 2971 người đậu Tiến Sĩ nhưng chưa có khoa nào 5 người đồng hương cùng đậu . Vua Thành Thái và triều Nguyễn đã ban danh hiệu Ngũ Phụng Tề Phi để khen tặng. Năm vị đó là các ông Phạm Liệu, Phan Quang, Phạm Tuấn, Ngô Lý và Dương Hểin Tiến.

Ngoài ra khoa Tân Sửu (1901) Quảng Nam có 4 vị đỗ đồng khoa Phó Bảng là các ông Nguyễn Ðình Hiến, Nguyễn Mậu Hoán, Võ Sỹ và Phan Chu Trinh. Bốn vị này được mệnh danh là Tứ Kiệt.

Những danh hiệu Ngũ Phụng Tứ Phi hay Tứ Kiệt nói lên tài học và sự vinh hiển đậu đạt của các danh sĩ Quảng Nam, con cháu người Quảng Nam nói chung và Tộc Trần nói riêng lấy đó làm vinh dự và noi gương.

Tinh tuý của học thuật Quảng Nam là cái học thấu suốt, cách vật trí tri, học để hiểu biết thêm ý nghĩa và mục đích của học vấn, học đi đôi với hành, học để phát huy đạo đức. Học hành giỏi, thi đỗ làm quan, là con đường lập thân của người đàn ông Việt Nam thời trước. Nhưng làm quan để làm gì, là sự khác nhau về lý tưởng của mỗi người. Quan trường là phương tiện tốt để những người yêu nước thương dân đem khả năng của mình ra phục vụ.

Ða số những danh sĩ Quảng Nam là những người yêu nước thương dân. Ra làm quan là những người thanh liêm nổi tiếng. Gặp thời loạn ly, đất nước bị ngoại xâm, họ tích cực chống giặc bảo vệ tổ quốc, từ quan, tham gia vào các phong trào cách mạng giải phóng dân tộc, như: Phạm Phú Thứ, người làng Ðông Bàn, phủ Ðiện Bàn; Hoàng Diệu, người làng Xuân Ðài (Ðiện Bàn);Trần Văn Dư, người làng An Mỹ Tây, huyện Tam Kỳ; Nguyễn Duy Hiệu, người làng Thanh Hà, Ðiện Bàn…

Trong quá trình lịch sử đấu tranh của dân tộc Việt Nam từ các phong trào Cần Vương, Ðông Du, Duy Tân và những phong trào kháng chiến về sau, các danh sĩ Quảng Nam đã đóng góp cả bản thân và đi sống của mình cho sự nghiệp chung của dân tộc.

Những hoạt động cách mạng của những nhân sĩ Quảng Nam tuy không đem lại sự thành công trực tiếp nhưng đã đóng góp tích cực vào việc duy trì một khí thế đấu tranh liên tục của dân tộc.

Vì sợ hãi tinh thần đấu tranh cách mạng của nhân dân Quảng Nam và các tỉnh lân cận miền nam đèo Hải Vân như Quảng Ngãi, Bình Ðịnh, Phú Yên, chính quyền thực dân Pháp tiếp tục duy trì chính sách liệm biệt đối xử đã có sẵn từ thời nhà Nguyễn. Họ hạn chế tối đa việc học đối với nhữnh tỉnh này (việc học vấn đã hạn chế trong cả nước), ngay cả thành phố Ðà Nẵng (Touranne) là thuộc địa của Pháp cũng không có trường Trung Học. Do đó chỉ có rất it người dân Quảng Nam có đủ điều kiện để học cấp cao trong thời kỳ tân học.

Nhưng với truyền thống học giỏi, tinh thần yêu nước, trọng tự do và phẩm giá con người, những người con đất Quảng đã nỗ lực phấn đấu vươn lên không mệt mỏi để có thể làm rạng danh cho quê hương mình, Quảng Nam - đất khoa bảng.

Tiểu sử Nguyễn Duy Hiệu

Nguyễn Duy Hiệu sinh năm Đinh Mùi 1847 và mất năm Đinh Hợi 1887. Quê ông ở làng Thanh Hà, huyện Diên Phước, phủ Điện Bàn (nay thuộc xã Cẩm Hà, thị xã Hội An, Quảng Nam).
Ngay từ nhỏ Nguyễn Duy Hiệu đã nổi tiếng là người học giỏi nhất trong vùng. Ông là học trò của nhà giáo nổi tiếng Lê Tấn Toán, chẳng những thầy đã dạy chữ cho ông mà còn hun đúc tinh thần yêu nước bất khuất của cha ông trong trái tim người học trò yêu nước. Mới 14 tuổi, Nguyễn Duy Hiệu đã xứng danh “tuyên đệ nhất Tú tài” và sau đó năm 1876 ông đỗ cử nhân, năm 1879 đỗ Phó bảng.

Nguyễn Duy Hiệu được cử làm Giảng tập ở Dưỡng thiện đường dạy Hoàng tử Ưng Đăng (con nuôi thứ ba của vua Tự Đức, sau này là vua Kiến Phúc) do đó ông được phong tước Hồng lô Tự khanh, vì thế sau này nhiều người gọi ông là ông Hường hoặc Hường Hiệu.

Sau khi vua Tự Đức mất, tình hình trong triều rối ren, bên đó giặc Pháp đã nện gót giày xâm lược trên quê hương đất nước, Nguyễn Duy Hiệu - một người ưu thời mẫn thế bèn từ quan về quê lập tổ chức Nghĩa Hội để mưu cầu chống Pháp. Ông đã cùng Trần Văn Dư, Phan Bá Phiến, Nguyễn Hàm phát động khởi nghĩa hưởng ứng Phong trào Cần Vương của vua Hàm Nghi. Ngày 4-9-1885, nghĩa quân đã đánh chiếm Nha Sơn phòng do Nguyễn Đình Tựu chỉ huy, Đình Tựu đã làm đơn tâu triều đình sau đó bỏ cả binh lính doanh trại cáo bệnh từ quan. Với thắng lợi đầu tiên này, đã cổ vũ mạnh mẽ tinh thần của binh sĩ. Tiếp đó là trận đánh phủ đầu quân viễn chinh ở thành La Qua (phủ Điện Bàn) và đã thắng lợi. Sau đó nghĩa quân đã vây đánh cứ điểm lớn của giặc ở Trà Kiệu và Phú Thượng là hai cứ điểm lớn nhất của tỉnh Quảng Nam và thu được thắng lợi to lớn.

Từ hoạt động ngày càng mở rộng và càng mạnh của nghĩa quân, giặc Pháp đã điên cuồng phản công trên toàn tuyến và dần dần lấy lại những căn cứ đã mất. Để tiếp tục kháng chiến, Nguyễn Duy Hiệu và các thủ lĩnh đã thực hiện tiêu thổ kháng chiến trên diện rộng của tỉnh Quảng Nam và vùng lân cận, khiến giặc đi đến đâu cũng thấy cảnh hoang tàn, không dân làm cho chúng rất hoang mang. Song dần dần, nghĩa quân cũng sức cùng lực kiệt, nhất là sau khi một thành viên trong ban lãnh đạo là Trần Văn Dư bị giết, thì giặc đàn áp rất mạnh. Giặc dùng tên tay sai Nguyễn Thân để tiêu diệt nghĩa quân, trong cơn vận bí, Nguyễn Duy Hiệu cùng phó tướng Phan Bá Phiến tuyên bố giải tán nghĩa quân. Để địch khỏi bắt bớ trả thù những người theo nghĩa quân, Phan Bá Phiến tuẫn tiết và Nguyễn Duy Hiệu lọt vào tay giặc. Chúng đóng cũi đưa ông về kinh đô dụ hàng, nhưng bất lực trước khí phách ngoan cường của ông. Cuối cùng tòa khâm sứ Pháp và bù nhìn Nam triều đã xử ông án chém. Ngày 1-10-1887, trên đường ra pháp trường, Nguyễn Duy Hiệu đã đọc bài thơ tuyệt mệnh gửi hậu thế trong đó có câu:
“Non sông phần tự như trời định
Cây cỏ buồn xem thế đất cùng
Chìm nổi đời nay ai đó tá?
Chớ đem thành bại luận anh hùng”
Sau đó ông ung dung bước lên đoạn đầu đài.

Hậu thế cũng không “đem thành bại luận anh hùng”, dẫu cuộc khởi nghĩa của Nghĩa Hội bị thất bại, nhân dân vẫn cảm phục và kính trọng ông. Ở thị xã Hội An có bia tưởng niệm Nguyễn Duy Hiệu. Ở xã Cẩm Hà quê ông có bức tượng đài khí phách của ông. Tinh thần yêu nước của Nguyễn Duy Hiệu với khí phách anh hùng của ông cùng với khu tưởng niệm và mộ phần của ông, mãi mãi là niềm tự hào, là tài sản vô giá của nhân dân Quảng Nam nói riêng và nhân dân ta nói chung. Nguyễn Duy Hiệu đã là một tên tuổi bất diệt. (Theo Báo Bình Dương.)

Thứ Hai, 23 tháng 3, 2009

Cảm nghĩ

Trăm năm trước thì ta chưa có.
Trăm năm sau ta có cũng như không.
Cuộc đời có có không không.
Trăm năm còn lại tấm lòng mà thôi...

-------------------------------------

Em đến với tôi, xôn xao giấc mộng
Dẫu muà này trời đã chớm vào đông
Không nắng đẹp, mà sao lòng vẫn ấm
Vì yêu thương đang hoá kiếp nẩy mầm.

Tôi cám ơn em, cám ơn người tình
Với cuộc đời rực rỡ sáng lung linh
Ngỡ là trong mơ xa xôi huyền thoại
Đâu biết là em đã đến đây rồi

Vẫn thấy trong tim, bao điều rất lạ
Nhưng cũng là duyên nợ của trăm năm
Thuở xa xưa, đến kiếp này gặp lại
Ai bảo tình là chiếc bóng mờ phai

Cám ơn em, hoa thơm và trái ngọt
Chợt thấy mình trẻ lại tuổi hai mươi
Quên cuộc đời vừa đi qua một nữa
Mưa đầu muà làm mắt lá đong đưa.

---------------------------------------

Thương ai thương mái tóc dài,
Bây giờ tóc ngắn nhớ hoài ngày xưa,
Thương ai thương những cơn mưa
Tan trường ướt tóc ta đưa em về
Thương ai thương mái tóc thề
Tưởng người xưa đó, chẳng về cùng ta...!

---------------------------------------------

Lời ngõ

Các bạn lớp B1 (khoá 1986-1989) thân mến. Gần 20 năm trôi qua, kể từ khi chúng ta rời ghế trường Trung học, chia tay mỗi người một ngã. Người thì tiếp tục theo con đường học tập, người tìm kế mưu sinh, có người lập gia đình vui vầy với mái nhà ấm áp ngày ngày vang tiếng trẻ thơ.
Cuộc sống luôn sôi động không chờ bất cứ một ai, thời gian cứ lặng lẽ trôi. Bao nhiêu năm qua chưa một lần chúng ta có dịp hội tụ đủ ngần ấy gương mặt. Xuất phát từ tình cảm chân thành ấy, Ban cán sự lớp B1 đã quyết định lập Blog của lớp mình. Thông qua đó, chúng ta có thể ôn lại những kỷ niệm xưa, an ủi, động viên nhau trong cuộc sống hiện tại và cùng hướng đến tương lai.
Hiện nay, BCS đang rất mong Thầy giáo chủ nhiệm và các bạn cùng lớp cung cấp những tư liệu về hoạt động của lớp mình ngày xưa.
Tư liệu có thể là thông tin giới thiệu về cá nhân và gia đình các bạn:
- Địa chỉ liên hệ
- Công việc
- Số điện thoại
- Email...
- Hình ảnh, lưu bút, sổ đầu bài, hoặc kỷ yếu của lớp..

Thứ Tư, 18 tháng 3, 2009

Gặp mặt 2009

MỜI HỌP LỚP - KỶ NIỆM 20 NĂM NGÀY RA TRƯỜNG
Thời gian: Ngày 12 tháng 7 năm 2009 (chủ nhật)
Tiếp đón Thầy cô và các bạn từ 9 giờ sáng
10h đến 11h : vào Phòng học Trường Nguyễn Duy Hiệu để chụp hình kỷ niệm
Trưa liên hoan gặp mặt.
Địa điểm: Sẽ có ban liên lạc đi tiền trạm và thông báo sau.