Thứ Tư, 25 tháng 3, 2009

Tiểu sử Nguyễn Duy Hiệu

Nguyễn Duy Hiệu sinh năm Đinh Mùi 1847 và mất năm Đinh Hợi 1887. Quê ông ở làng Thanh Hà, huyện Diên Phước, phủ Điện Bàn (nay thuộc xã Cẩm Hà, thị xã Hội An, Quảng Nam).
Ngay từ nhỏ Nguyễn Duy Hiệu đã nổi tiếng là người học giỏi nhất trong vùng. Ông là học trò của nhà giáo nổi tiếng Lê Tấn Toán, chẳng những thầy đã dạy chữ cho ông mà còn hun đúc tinh thần yêu nước bất khuất của cha ông trong trái tim người học trò yêu nước. Mới 14 tuổi, Nguyễn Duy Hiệu đã xứng danh “tuyên đệ nhất Tú tài” và sau đó năm 1876 ông đỗ cử nhân, năm 1879 đỗ Phó bảng.

Nguyễn Duy Hiệu được cử làm Giảng tập ở Dưỡng thiện đường dạy Hoàng tử Ưng Đăng (con nuôi thứ ba của vua Tự Đức, sau này là vua Kiến Phúc) do đó ông được phong tước Hồng lô Tự khanh, vì thế sau này nhiều người gọi ông là ông Hường hoặc Hường Hiệu.

Sau khi vua Tự Đức mất, tình hình trong triều rối ren, bên đó giặc Pháp đã nện gót giày xâm lược trên quê hương đất nước, Nguyễn Duy Hiệu - một người ưu thời mẫn thế bèn từ quan về quê lập tổ chức Nghĩa Hội để mưu cầu chống Pháp. Ông đã cùng Trần Văn Dư, Phan Bá Phiến, Nguyễn Hàm phát động khởi nghĩa hưởng ứng Phong trào Cần Vương của vua Hàm Nghi. Ngày 4-9-1885, nghĩa quân đã đánh chiếm Nha Sơn phòng do Nguyễn Đình Tựu chỉ huy, Đình Tựu đã làm đơn tâu triều đình sau đó bỏ cả binh lính doanh trại cáo bệnh từ quan. Với thắng lợi đầu tiên này, đã cổ vũ mạnh mẽ tinh thần của binh sĩ. Tiếp đó là trận đánh phủ đầu quân viễn chinh ở thành La Qua (phủ Điện Bàn) và đã thắng lợi. Sau đó nghĩa quân đã vây đánh cứ điểm lớn của giặc ở Trà Kiệu và Phú Thượng là hai cứ điểm lớn nhất của tỉnh Quảng Nam và thu được thắng lợi to lớn.

Từ hoạt động ngày càng mở rộng và càng mạnh của nghĩa quân, giặc Pháp đã điên cuồng phản công trên toàn tuyến và dần dần lấy lại những căn cứ đã mất. Để tiếp tục kháng chiến, Nguyễn Duy Hiệu và các thủ lĩnh đã thực hiện tiêu thổ kháng chiến trên diện rộng của tỉnh Quảng Nam và vùng lân cận, khiến giặc đi đến đâu cũng thấy cảnh hoang tàn, không dân làm cho chúng rất hoang mang. Song dần dần, nghĩa quân cũng sức cùng lực kiệt, nhất là sau khi một thành viên trong ban lãnh đạo là Trần Văn Dư bị giết, thì giặc đàn áp rất mạnh. Giặc dùng tên tay sai Nguyễn Thân để tiêu diệt nghĩa quân, trong cơn vận bí, Nguyễn Duy Hiệu cùng phó tướng Phan Bá Phiến tuyên bố giải tán nghĩa quân. Để địch khỏi bắt bớ trả thù những người theo nghĩa quân, Phan Bá Phiến tuẫn tiết và Nguyễn Duy Hiệu lọt vào tay giặc. Chúng đóng cũi đưa ông về kinh đô dụ hàng, nhưng bất lực trước khí phách ngoan cường của ông. Cuối cùng tòa khâm sứ Pháp và bù nhìn Nam triều đã xử ông án chém. Ngày 1-10-1887, trên đường ra pháp trường, Nguyễn Duy Hiệu đã đọc bài thơ tuyệt mệnh gửi hậu thế trong đó có câu:
“Non sông phần tự như trời định
Cây cỏ buồn xem thế đất cùng
Chìm nổi đời nay ai đó tá?
Chớ đem thành bại luận anh hùng”
Sau đó ông ung dung bước lên đoạn đầu đài.

Hậu thế cũng không “đem thành bại luận anh hùng”, dẫu cuộc khởi nghĩa của Nghĩa Hội bị thất bại, nhân dân vẫn cảm phục và kính trọng ông. Ở thị xã Hội An có bia tưởng niệm Nguyễn Duy Hiệu. Ở xã Cẩm Hà quê ông có bức tượng đài khí phách của ông. Tinh thần yêu nước của Nguyễn Duy Hiệu với khí phách anh hùng của ông cùng với khu tưởng niệm và mộ phần của ông, mãi mãi là niềm tự hào, là tài sản vô giá của nhân dân Quảng Nam nói riêng và nhân dân ta nói chung. Nguyễn Duy Hiệu đã là một tên tuổi bất diệt. (Theo Báo Bình Dương.)

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét